Thị trường Vs người tiêu dùng, nhà sản xuất và xã hội

THỊ TRƯỜNG VÀ PHÚC LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Các giao dịch trên thị trường làm cho cả người mua và người bán cùng được lợi. Khi một người tiêu dùng (NTD) mua phở, cô ta muốn thỏa mãn cơn đói của mình hơn là để dành 6.000 đồng trong túi. Còn tiệm phở cũng sẵn lòng bán, vì họ muốn được tiền hơn là giữ lại phở trong cửa tiệm. Khi có nhiều người mua phở và nhiều người bán phở thì cả đôi bên đều có lợi.

Lợi ích mà người mua và người bán thu được từ những giao dịch trên thị trường góp phần hình thành nên phúc lợi kinh tế (chúng ta sẽ định nghĩa chi tiết khái niệm này trong những bài tới). Chúng ta phân tích lợi ích của NTD dựa theo đường cầu ở hình bên. Mức giá (đồng/đơn vị hàng) được thể hiện trên trục tung và lượng cầu được thể hiện trên trục hoành (đơn vị hàng/thời kỳ). Đường cầu dốc xuống vì NTD sẽ tăng lượng cầu khi giá giảm.

Trong một thị trường cạnh tranh, mọi người mua đều trả theo giá cân bằng (P*). Nhưng đưa vào đường cầu, ta thấy nếu số lượng hàng hóa bị hạn chế, một số NTD sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn. Những người này sẽ có được thặng dư người tiêu dùng tương đương với chênh lệch giữa giá trị do họ nhìn nhận từ món hàng và giá cân bằng thị trường.

Tổng thặng dư được xác định bởi diện tích tô đậm trên đồ thị, bên dưới đường cầu và trên đường giá P*. Nếu lượng hàng bán ra ít hơn thì tổng thặng dư sẽ nhỏ hơn. Tại mức giá cân bằng P, NTD sẽ không mua một lượng hàng nhiều hơn. Do đó, khi giá cân bằng là P’ thì thặng dư sẽ được tối đa hóa tại lượng cân bằng.

THỊ TRƯỜNG VÀ PHÚC LỢI NHÀ SẢN XUẤT

Các giao dịch trên thị trường giúp cả người mua và người bán cùng được lợi.

Chúng ta phân tích lợi ích của nhà sản xuất theo đường cung phở ở hình bên. Trục tung thể hiện giá (VND/tô phở) và trục hoành thể hiện lượng cung (số tô phở/thời điểm nhất định). Đường cung cho ta biết số tô phở sẽ được cung ứng ở một mức giá bất kỳ. Giá càng cao, càng có nhiều tô phở được bán.

Trong một thị trường cạnh tranh, các nhà sản xuất đều bán tại mức giá cân bằng (P). Nhưng đồ thị cho thấy một số nhà sản xuất sẵn sàng sản xuất ở một mức giá thấp hơn P. Do có hiệu quả cao hơn, họ có thể sản xuất thêm lượng hàng với giá thành đơn vị thấp hơn. Những người này sẽ thu được thặng dư nhà sản xuất bằng với chênh lệch giữa mức giá mà họ muốn bán và mức giá họ thật sự bán được.

Tổng thặng dư nhà sản xuất được xác định bởi diện tích nằm trên đường cung, nhưng dưới đường giá P’ (phần diện tích được tô đậm trên đồ thị). Tại mức giá cân bằng P* họ sẽ không sản xuất nhiều hơn lượng Qs. Giá thấp hơn P’ hay lượng thấp hơn Qs đều làm giảm thặng dư nhà sản xuất.

LỢI ÍCH XÃ HỘI (SB)

Các giao dịch trên thị trường làm cho cả người mua và người bán đều được lợi. Hai phần trên đã phân tích thặng dư người tiêu dùng (CS) và thặng dư nhà sản xuất (PS) trên thị trường phở. Phần này cho thấy lợi ích xã hội (còn gọi là phúc lợi kinh tế) là tổng của CS và PS và chứng minh rằng lợi ích xã hội đạt tối đa khi thị trường ở trạng thái cân bằng.

Cân bằng thị trường được thiết lập tại mức giá mà lượng cung và lượng cầu bằng nhau. Trên đồ thị biểu diễn thị trường, giao điểm của đường cung và đường cầu cho ta điểm cân bằng.

Lợi ích xã hội là tổng diện tích tô đậm trên đồ thị.

Giả sử lượng hàng trên thị trường là Q1 thay vì Q. Khi đó giá tăng lên P1 vì đây là mức giá mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả. Ta thấy một phần CS được chuyển sang PS nhưng có hai tam giác nhỏ thuộc CS và PS trong khoảng Q1, và Q mất đi. Khi lượng hàng thấp hơn Q* thì lợi ích xã hội tương ứng sẽ thấp hơn lợi ích xã hội tại Q*.

Bây giờ giả sử lượng hàng trên thị trường là Q2. Tại bất kỳ lượng hàng nào nhiều hơn Q* ta thấy đường cung nằm bên trên đường cầu. Điều này cho thấy các chi phí nguồn lực cần thiết để tăng lượng hàng từ Q* lên Q2 là lớn hơn giá trị của lượng hàng tăng thêm này theo nhìn nhận của người tiêu dùng. SB ở Q* được tính bằng SB ở Q* trừ cho diện tích tam giác ABC.

Lợi ích xã hội được tối đa hóa tại mức cân bằng thị trường. Trong phần phân tích, chúng ta đã giả định số lượng hàng trên thị trường có thể chệch khỏi lượng cân bằng.